Kí sinh trùng

Ký sinh trùng – Bài 17 – Sán lá ký sinh – Giun sán y học

Đang tải câu hỏi…

SÁN LÁ KÝ SINH (PARASITIC TREMATODE)

1. Khái niệm chung về sán lá ký sinh
Sán lá ký sinh đa số hình chiếc lá và lưỡng giới (trừ sán máng). Phần lớn sán lá truyền qua thức ăn (Foodborne Trematode) là mầm bệnh từ người ra môi trường và phải phát triển qua vật chủ trung gian mới nhiễm vào người, hầu hết do ăn phải ấu trùng sán trong thức ăn. Đại diện là các loài sán lá gan, sán lá phổi, sán lá ruột. Ngoài ra, có sán máng truyền theo đường da khi người tiếp xúc với nước có ấu trùng sán máng.

1.1. Đặc điểm hình thể sán lá ký sinh

1.1.1. Hình thể ngoài
Phần lớn sán lá ký sinh hình chiếc lá dẹt, nhưng cũng có loài không dẹt như sán lá phổi hình hạt lạc, hạt cà phê hay sán máng hình máng. Sán lá có nhiều kích thước khác nhau tùy từng loài và thậm chí trong cùng loài cũng có kích thước khác nhau khi chúng ký sinh trên các vật chủ khác nhau. Thường là kích thước lớn, có loài 2 – 3 cm như sán lá gan, sán lá ruột lớn, nhưng cũng có loài rất nhỏ, chưa đầy 1 mm như sán lá ruột nhỏ. Không chia đốt và vỏ thường có gai bao phủ. Sán lá có 2 hấp khẩu là hấp khẩu miệng và hấp khẩu bụng.

1.1.2. Hình thể trong
Sán lá không có xoang thân, ống tiêu hóa là ống tắc chạy dọc 2 bên cơ thể (riêng sán máng 2 nhánh ruột nối với nhau). Cơ quan bài tiết là ống thoát đơn giản, cơ quan thần kinh là các vòng, sợi và hạch thần kinh, cơ quan sinh dục đực và cái trên cùng một cơ thể (trừ sán máng) và sán lá không có cơ quan hô hấp và tuần hoàn.

1.2. Vị trí ký sinh
Tùy từng loại giun sán mà có vị trí ký sinh tương ứng. Tuy vậy trong một loài giun sán có thể ký sinh ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể. Ví dụ:

  • Sán lá gan chủ yếu ký sinh trong đường mật của gan, nhưng sán lá gan lớn có thể ký sinh lạc chỗ ở nơi khác như: dưới da, khớp, cơ…
  • Sán lá phổi ký sinh chủ yếu ở tiểu phế quản phổi nhưng cũng có khi ký sinh ở màng phổi, não, dưới da, phúc mạc, tinh hoàn…
  • Sán lá ruột ký sinh ở ruột non.

1.3. Đặc điểm chu kỳ và đường lây nhiễm
Trứng các loài sán lá đều qua môi trường nước và vào ốc thích hợp (vật chủ trung gian thứ nhất) để hình thành ấu trùng đuôi sau đó chuyển sang ký sinh ở vật chủ trung gian thứ 2 tùy từng loài sán. Ví dụ: sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ ký sinh ở cá; sán lá gan lớn và sán lá ruột lớn ký sinh ở thực vật thủy sinh, sán lá phổi ký sinh ở tôm cua nước ngọt, còn sán máng ấu trùng đuôi trực tiếp chui qua da người và máu. Trong cơ thể ốc, sán lá có hình thức sinh sản đa phôi (từ 1 miracidium sinh ra nhiều cercaria). Mầm bệnh của các loại sán lá truyền qua thức ăn xâm nhập vào người qua đường ăn uống 1 cách thụ động do vật chủ ăn phải thức ăn (cá, tôm, cua, thực vật thủy sinh…) có ấu trùng sán.

1.4. Tác hại của sán lá ký sinh
Nói chung các loại sán lá ký sinh đều gây tác hại rất lớn đối với sức khỏe vật chủ đặc biệt có nhiều tai biến nguy hiểm.

  • Tác hại về dinh dưỡng:
    Chiếm thức ăn và gây suy yếu cơ thể, đồng thời làm ảnh hưởng chức năng như: sán lá gan nhỏ gây giảm chất lượng mật, gây rối loạn tiêu hóa.
  • Tác hại tại nơi ký sinh:
    Đây là tác hại quan trọng của sán lá ký sinh đối với cơ thể người. Ví dụ:
    Sán lá gan nhỏ gây dày đường mật, kém đàn hồi, tắc mật, xơ gan cổ trướng và có liên quan đến ung thư đường mật Cholangiocarcinoma. Sán máng gây xơ gan cổ trướng.
    Sán lá gan lớn gây áp xe cấp tính, hủy hoại tế bào gan và sán có thể di chuyển đi nhiều nơi gây tai biến nguy hiểm.
    Sán lá ruột gây viêm ruột, co thắt dữ dội.
  • Tác hại do nhiễm các chất độc:
    Sán lá ký sinh cũng như giun sán khác, trong khi ký sinh đều tiết ra nhiều chất gây độc cho cơ thể, các chất độc này tùy loại sán, chúng có tác động gây mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, mất ngủ, nhức đầu, có khi rối loạn tâm thần, có thể bị nhiễm độc nặng như nhiễm sán lá gan lớn.

Comment ×

Your email address will not be published. Required fields are marked *